Ấn Độ, chính thức Cộng hòa Ấn Độ là một quốc gia ở Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy theo khu vực, quốc gia đông dân thứ hai (với hơn 1,2 tỷ dân) và là nền dân chủ đông dân nhất thế giới. Nó được bao bọc bởi Ấn Độ Dương ở phía nam, Biển Ả Rập ở phía tây nam và Vịnh Bengal ở phía đông nam. Nó có chung biên giới đất liền với Pakistan ở phía tây; [f] Trung Quốc, Nepal và Bhutan ở phía đông bắc; và Myanmar (Miến Điện) và Bangladesh ở phía đông. Ở Ấn Độ Dương, Ấn Độ nằm ở vùng lân cận Sri Lanka và Maldives. Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi có nền văn minh Indus Valley đô thị của thiên niên kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Trong thiên niên kỷ tiếp theo, kinh sách lâu đời nhất liên quan đến Ấn Độ giáo bắt đầu được sáng tác. Sự phân tầng xã hội, dựa trên đẳng cấp, xuất hiện trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, và Phật giáo và đạo Jain nảy sinh. Hợp nhất chính trị sớm diễn ra dưới đế chế Maurya và Gupta; Vương quốc Trung bán đảo sau này ảnh hưởng đến các nền văn hóa đến tận Đông Nam Á. Trong thời kỳ trung cổ, Do Thái giáo, Zoroastrianism, Kitô giáo và Hồi giáo đã đến, và đạo Sikh xuất hiện, tất cả thêm vào văn hóa đa dạng của khu vực. Phần lớn miền bắc rơi xuống vương quốc Delhi; miền nam được thống nhất dưới đế chế Vijayanagara. Nền kinh tế mở rộng vào thế kỷ 17 trong Đế chế Mughal. Vào giữa thế kỷ 18, tiểu lục địa dưới sự cai trị của Công ty Đông Ấn Anh, và vào giữa năm 19 dưới sự cai trị của vương miện Anh. Một phong trào dân tộc xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, mà sau này, dưới thời Mahatma Gandhi, đã được ghi nhận cho sự kháng cự bất bạo động và dẫn đến sự độc lập của Ấn Độ vào năm 1947.

Du Lịch Văn Hóa

Du Lịch Văn Hóa
Du lịch văn hóa là tập hợp các du lịch liên quan đến sự tham gia của người du lịch với nền văn hoá của một quốc gia hoặc vùng, đặc biệt là lối sống của người dân ở những khu vực địa lý, lịch sử của những người đó, nghệ thuật, kiến ​​trúc, và các yếu tố khác đã giúp hình thành cách sống của họ.

Du lịch văn hoá bao gồm du lịch ở khu vực thành thị, đặc biệt là các thành phố lịch sử hoặc lớn và các cơ sở văn hoá của họ như bảo tàng và nhà hát. Nó cũng có thể bao gồm du lịch ở nông thôn thể hiện truyền thống của các cộng đồng văn hoá bản xứ (lễ hội, lễ nghi), các giá trị và lối sống của họ, cũng như những hẻm núi như du lịch công nghiệp và du lịch sáng tạo.

Nói chung người ta thường đồng ý rằng khách du lịch văn hoá chi tiêu đáng kể so với khách du lịch tiêu chuẩn. Hình thức du lịch này cũng ngày càng trở nên phổ biến trên khắp thế giới, và một báo cáo gần đây của OECD đã nhấn mạnh vai trò của du lịch văn hoá trong phát triển khu vực ở các khu vực khác nhau trên thế giới.[3]

Du lịch văn hoá được định nghĩa là “sự di chuyển của con người đến các điểm du lịch văn hoá xa nơi thường trú của họ, với mục đích thu thập thông tin và kinh nghiệm mới để đáp ứng nhu cầu văn hoá của họ”. ở châu Âu. CABI, Wallingford.[4] Những nhu cầu văn hoá này có thể bao gồm việc củng cố bản sắc văn hoá của một người bằng cách quan sát “những người khác” kỳ lạ. Du lịch văn hoá có một lịch sử lâu dài, và với nguồn gốc của nó trong Grand Tour được cho là hình thức ban đầu của du lịch. Đây cũng là một trong những hình thức du lịch mà hầu hết các nhà hoạch định chính sách dường như đặt cược vào tương lai. Ví dụ, Tổ chức Du lịch Thế giới khẳng định du lịch văn hoá chiếm 37% du lịch toàn cầu, và dự báo rằng nó sẽ tăng trưởng ở mức 15% mỗi năm. Những con số như vậy thường được trích dẫn trong các nghiên cứu về thị trường du lịch văn hoá (ví dụ Bywater, 1993), nhưng ít khi được ủng hộ với nghiên cứu thực nghiệm.

Leo Núi

Leo núi là môn thể thao leo núi. Trong khi một số học giả xác định các hoạt động liên quan đến leo núi là leo núi (đá và băng) và leo núi, thì những người khác cũng thêm ba lô, đi bộ đường dài, trượt tuyết, thông qua các hoạt động ferrata và hoang dã, và những người khác nói rằng các hoạt động leo núi cũng bao gồm leo núi trong nhà, leo núi thể thao và đá cuội. Tuy nhiên, đối với hầu hết các học giả, thuật ngữ leo núi được hiểu là leo núi (mà bây giờ nói đến leo núi mạo hiểm hoặc leo núi thể thao) và leo núi (đi bộ trên đồi ở những nơi ‘kỳ lạ’). Đi xe đạp trên núi cũng có thể đơn giản hình thức leo núi khi nó liên quan đến việc tranh giành, hoặc trải dài các lớp leo núi cơ bản hơn, cũng như băng qua sông băng.

Trong khi leo núi bắt đầu khi cố gắng đạt đến đỉnh cao nhất của những ngọn núi lớn không được đền đáp, môn thể thao này đã phân nhánh thành các chuyên ngành giải quyết các khía cạnh khác nhau của ngọn núi và bao gồm ba khu vực: đá thủ công, tuyết thủ công và trượt tuyết, tùy thuộc vào tuyến đường được chọn là trên đá, tuyết hoặc băng. Tất cả đòi hỏi kinh nghiệm, khả năng thể thao và kiến ​​thức kỹ thuật để duy trì sự an toàn.

Tham Quan

Một nghiên cứu gần đây về thói quen tiêu dùng văn hoá của người châu Âu (Ủy ban châu Âu năm 2002) chỉ ra rằng người ta đã đến thăm các viện bảo tàng và phòng triển lãm ở nước ngoài gần như thường xuyên ở nhà. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của du lịch văn hoá như một nguồn tiêu thụ văn hoá. Việc khái quát hoá tiêu dùng văn hoá vào kỳ nghỉ, tuy nhiên, chỉ ra một trong những vấn đề chính của việc xác định du lịch văn hoá. Sự khác biệt giữa các chuyến thăm văn hoá vào kỳ nghỉ (du lịch văn hoá) và các cuộc viếng thăm văn hoá được thực hiện trong thời gian rảnh rỗi ở nhà là gì? Phần lớn các nghiên cứu do Hiệp hội Giải trí Du lịch và Du lịch (ATLAS) thực hiện trên thị trường du lịch văn hoá quốc tế (Richards 1996, 2001) đã làm nổi bật mức độ liên tục cao giữa tiêu dùng văn hoá trong nước và trong kỳ nghỉ.

Mặc dù những vấn đề này, các nhà hoạch định chính sách, ban quản lý du lịch và các nhà quản lý văn hoá trên thế giới vẫn tiếp tục coi du lịch văn hoá là một nguồn tiềm năng tăng trưởng du lịch quan trọng. Có một nhận thức chung là du lịch văn hoá là một ngành du lịch “tốt” thu hút du khách chi tiêu cao và ít gây thiệt hại cho môi trường hoặc văn hoá địa phương trong khi đóng góp rất nhiều vào nền kinh tế và hỗ trợ văn hoá. Tuy nhiên, các nhà bình luận khác cho rằng du lịch văn hoá có thể gây hại nhiều hơn lợi ích, cho phép du khách văn hoá thâm nhập vào môi trường văn hoá nhạy cảm như là nhân viên bảo vệ trước của du khách.